SỞ Y TẾ New Zealand triển khai thành công hồ sơ sức khoẻ điện tử - Sở Y Tế HCM

Thảo luận trong 'Tin tức của Sở Y tế' bắt đầu bởi Sở Y tế TP.HCM, 19/9/19.

  1. Sở Y tế TP.HCM

    Sở Y tế TP.HCM Moderator
      0/6

    Đã được thích:
    48
    Điểm thành tích:
    0
    [​IMG]

    Ngành y tế New Zealand đã và đang đối mặt với những thách thức do chi phí y tế leo thang. Xu hướng này có thể sẽ tiếp tục với nhu cầu ngày càng tăng từ dân số già và lạm phát chi phí y tế liên tục. Nhu cầu về sức khỏe đang tăng lên do sự thiếu hụt lực lượng lao động y tế ngày càng tăng. Trong bối cảnh đó, công nghệ có thể là một yếu tố quan trọng quyết định để tối ưu hóa hiệu suất của ngành chăm sóc sức khỏe. Dưới đây là tóm lược những yếu tố quyết định cho sự thành công trong triển khai EHR tại New Zealand qua chuyên đề “Implementing electronic health records in New Zealand: a critical appraisal of literature”, được đăng trên Tạp chí “Health Informatics - An International Journal” Vol.5, November 2016.


    Sự tiến bộ trong công nghệ là động lực chính để New Zealand triển khai Hồ sơ sức khỏe điện tử (EHRs). Tích hợp thông tin liền mạch giữa các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu và tuyến bệnh viện là yếu tố quan trọng để đảm bảo hiệu quả cao của EHRs. Các yếu tố như cấu trúc tổ chức, văn hóa, lãnh đạo và thiết kế quy trình làm việc rất quan trọng để đạt được việc thực hiện thành công EHRs. Do đó, việc triển khai thành công EHR đã làm tăng thêm giá trị đáng kể cho hệ thống chăm sóc sức khỏe của New Zealand.


    Việc thực hiện EHRs mang lại lợi ích rộng hơn cho bác sĩ lâm sàng, bệnh nhân và nhà quản lý chăm sóc sức khỏe cũng như tăng cường hệ thống phân phối chăm sóc sức khỏe. Cải thiện chất lượng chăm sóc và an toàn cho bệnh nhân là kết quả lâm sàng chính liên quan đến việc sử dụng EHRs. Một số ưu điểm được báo cáo của EHRs bao gồm: a) cải thiện mức độ dễ đọc của ghi chú lâm sàng, b) thông tin có thể truy cập, c) hệ thống nhắc trên máy vi tính cho bác sĩ, d) chuẩn hoá công tác chăm sóc, e) giảm điều tra lâm sàng, f) giảm sai sót thuốc, và g) tỷ lệ tử vong thấp liên quan đến các biến chứng y tế giảm. Cuối cùng, điều này đã được chứng minh là cải thiện chất lượng và an toàn cho bệnh nhân. Mặt khác, triển khai thành công đã góp phần tiết kiệm ngân sách, do làm giảm việc mã hóa không chính xác, giảm chi phí liên quan đến hồ sơ giấy và các tài liệu thủ tục theo quy định. EHR cũng tăng cường bảo mật dữ liệu và bảo mật bệnh nhân. Lợi ích xã hội của EHRs tạo điều kiện thuận lợi cho khả năng tiến hành nghiên cứu với dữ liệu bệnh nhân và xác định các thực hành lâm sàng dựa trên bằng chứng.


    Ở New Zealand, bác sĩ thực hành tổng quát (GP) là những người đầu tiên sử dụng máy tính vào đầu những năm 1980. Năm 1992, Bộ Y tế New Zealand đã giới thiệu bộ nhận dạng y tế quốc gia (National Health Identifier - NHI). Đây là mã định danh duy nhất được sử dụng cho mọi người dân để sử dụng các dịch vụ hỗ trợ sức khỏe và khuyết tật ở New Zealand. NHI này được liên kết với hệ thống cảnh báo y tế (Medical Warnings System - MWS), giúp cảnh báo các chuyên gia y tế về bất kỳ yếu tố rủi ro nào khi đưa ra quyết định lâm sàng cho từng bệnh nhân. Mỗi nhà cung cấp dịch vụ y tế được xác định duy nhất bởi chỉ số nhà cung cấp dịch vụ y tế (Health Provider Index - HPI) đảm bảo an toàn khi truy cập và chuyển tải các thông tin y tế.


    Chuyển tải và lưu trữ thông tin y tế điện tử được tổ chức “Health Link” giới thiệu vào năm 1993. Đây là một nhà tích hợp hệ thống y tế cho phép các bác sĩ giao tiếp điện tử với các hệ thống y tế khác. Điều này cho phép các bác sĩ GP trao đổi thông tin điện tử bằng cách sử dụng giao tiếp “point-2-point” và vi tính hóa gần 100% dịch vụ chăm sóc ban đầu ở New Zealand. Các quy tắc để thu thập, sử dụng và tiết lộ thông tin sức khoẻ được điều chỉnh bởi Bộ luật bảo mật thông tin y tế 1994. Tầm quan trọng rõ ràng của công nghệ này được thiết lập bằng Chiến lược sức khỏe thông tin vào năm 1991 và Chiến lược thông tin y tế năm 2000. Năm 2003, chiến lược Thông tin Sức khỏe Trẻ em (Child Health Information strategy - CHIS) đã được phát triển để thu thập và sử dụng thông tin sức khỏe của trẻ em và thanh thiếu niên.


    Năm 2003, New Zealand thành lập Tổ chức Tiêu chuẩn Thông tin Y tế Quốc gia (National Health Information Standards Organisation - HISO). HISO hỗ trợ phát triển và quản lý các tiêu chuẩn công nghệ như HL7 (Health Level 7), hệ thống danh pháp thuật ngữ y học lâm sàng (SNOMED CT) - một tiêu chuẩn thuật ngữ lâm sàng thiết yếu đã được HISO xác nhận để sử dụng trong lĩnh vực y tế và khuyết tật ở New Zealand.


    Các sáng kiến như NHI, MWS, thuật ngữ lâm sàng quốc gia, áp dụng sớm HL7 và mã bảo mật thông tin y tế quốc gia đã cung cấp cơ sở cho việc thực hiện EHR quốc gia. Người tiêu dùng là chìa khóa để thiết kế EHR quốc gia duy nhất để biến dữ liệu thành thông tin có ý nghĩa, EHR duy nhất này có thể củng cố thông tin để cải thiện hỗ trợ quyết định và phối hợp chăm sóc bệnh nhân cho bệnh nhân mắc các bệnh mãn tính.


    Hội đồng y tế quận (DHB) tại New Zealand có quyền quyết định đầu tư cho hệ thống CNTT của các bệnh viện và các cơ sở y tế trực thuộc. Kinh phí tập trung vào cơ sở hạ tầng CNTT và bảo trì hệ thống đóng góp tới 40 đến 60% tổng chi tiêu cho CNTT.

    SỞ Y TẾ TP.HCM

    Xem thêm...
     
    Đang tải...

Chia sẻ trang này